Chào mừng quý vị đến với Website của Hoàng Thị Lan Thanh.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Ôn Thi Văn 9

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Lan Thanh (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:28' 21-12-2010
Dung lượng: 57.0 KB
Số lượt tải: 8
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Lan Thanh (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:28' 21-12-2010
Dung lượng: 57.0 KB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
GIỚI THIỆU TK
Ba trăm năm- một khoảng thời gian có thể xóa đi tất cả nhưng đối với Truyện Kiều của Nguyễn Du thì không. Một tác phẩm bất hủ như vậy luôn tỏa sáng không chỉ trong lịch sử văn học nước nhà mà còn trong đời sống tâm hồn dân tộc dù nó phủ lên mình lớp bụi thời gian khá dày. Truyện Kiều ra đời bằng cái tâm, cái tài của Nguyễn Du sau khi ông đọc xong "Kim, Vân, Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân trong một lần đi sứ. Từ một câu chuyện xuôi, qua bàn tay và sự sáng tạo của Nguyễn Du, Truyện Kiều đã trở thành truyện thơ đc viết bằng chứ Nôm gồm 3254 câu thơ lục bát. Truyện Kiều có 2 giá trị lớn: giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Về giá trị hiện thực, Truyện Kiều gợi lên bức tranh về chế độ phong kiến mà ở đó con ng` chạy theo đồng tiền mặt cho nhân phẩm, danh dự bị chà đạp trong vũng bùn đen tối của đồng tiền thối nát. Bên cạnh đó, Truyện Kiều còn khắc học rõ nét về cuộc sống của ng` dân trong xã hội phong kiến xưa nhất là phụ nữ. Họ bị xã hội chà đạp lên phẩm giá của mình không 1 chút thương tiếc, đồng thời còn lên tiếng tố cáo những thế lực xấu xa. Tác phẩm Truyện Kiều là sự kết tinh những thành tựu nghệ thuật phương diện ngôn ngữ thể loại, nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con ng`. Tóm lại, Truyện Kiều là kiệt tác văn học, kết tinh giá trị hiện thực, nhân đạo và thành tựu nghệ thuật tiêu biểu của văn học dân tộc có sức chinh phục lớn đối với mọi tầng lớp độc giả.
__________________
Đề bài: Viết đoạn văn theo kiểu T-P-H dài khoảng 10 câu cảm nhận về khổ cuối bài thơ "Ánh trăng" Bài Làm: Khổ thơ cuối bài Ánh trăng của Nguyễn Duy đã để lại trong em những cảm nhận sâu sắc. Trong cuộc gặp gỡ tình cờ giữa người và trăng, trăng cứ vẫn vẹn nguyên tròn đầy: tròn vành vạnh mặc dù người vô tình. Trăng đã được nhân hoá, trở thành ẩn dụ chỉ quá khứ đầy tình nghĩa của mỗi con người, của dân tộc. Cái quá khứ ấy đã bị con người lãng quên bởi cuộc sống thay đổi giữa chốn phồn hoa đô hội. Trăng, trong cuộc gặp gỡ ấy, trăng chỉ im phăng phắc. Trăng bao dung, độ lượng nhưng trăng cũng nghiêm khắc qua cái lặng im ấy. Cũng chính vì trăng im phăng phắc nên người phải giật mình suy nghĩ. Đó là cái giật mình vì đã trót lãng quên trăng, quên sự độ lượng của trăng. Đó là cái giật mình cảnh tỉnh ân hận. Nhờ giật mình mà người hiểu ra bài học "Uống nước nhớ nguồn", thuỷ chung của quá khứ.
__________________
Ánh trăng Trăng là một hình ảnh thiên nhiên thật tự nhiên, dung dị. Phải chăng, chính nhờ vẻ đẹp ấy, trăng luôn là đề tài được khai thác và bàn luận trong thế giới thi ca.Nếu Chính Hữu đã vẽ nên một bức tranh lãng mạn và tuyệt đẹp qua hình ảnh “đầu súng trăng treo”, còn với chủ tịch Hồ Chí MÌnh, “Ngắm trăng” thể hiện sự lạc quan, yêu thiên nhiên của người chiến sĩ cách mạng, vị lãnh tụ vĩ đại thì Nguyễn Duy lại mang đến cho chúng ta một “Ánh trăng” với màu sắc mới. Tên khai sin là Nguyễn Duy Nhuệ, quê ở tỉnh Thanh Hoá, Nguyễn Duy là một hồn thơ tươi trẻ, sâu lắng, thấm đẫm hương vị làng quê và cái hồn của ca dao, dân ca Việt Nam; điều đó phần nào được thể hiện qua “Ánh trăng”, một tác phẩm được sáng tác năm 1978- 3 năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Như một lời tự bạch chân thành, bằng ngôn ngữ bình dị, bài thơ thể hiện suy ngẫm về quá khứ và hiện tại để nhận ra sự thay đổi của bản thân, thế thái, nhân tình; từ đó gợi nhớ những năm tháng gian lao của đời lính, củng cố thái độ sống ân nghĩa, thuỷ chung cùng quá khứ. Nếu như trong một số bài thơ khác, một câu thơ có thể tách ra thành hai hay ba dòng thơ để tạo nên hiệu quả nghệ thuật, tạo ấn tượng mạnh; thì bài thơ “Ánh trăng” lại có nét mới. Chữ đầu của mỗi dòng thơ, câu thơ không được viết hoa. Phải chăng, nhà thơ muốn cảm xúc được dạt dào trôi chảy theo thời gian, kỳ niệm. Mạch cảm xúc của bài thơ đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái “giật mình” ở cuối bài thơ. Khổ thơ đầu mở ra hình ảnh vầng trăng thời quá khứ: “Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ” Hai
Ba trăm năm- một khoảng thời gian có thể xóa đi tất cả nhưng đối với Truyện Kiều của Nguyễn Du thì không. Một tác phẩm bất hủ như vậy luôn tỏa sáng không chỉ trong lịch sử văn học nước nhà mà còn trong đời sống tâm hồn dân tộc dù nó phủ lên mình lớp bụi thời gian khá dày. Truyện Kiều ra đời bằng cái tâm, cái tài của Nguyễn Du sau khi ông đọc xong "Kim, Vân, Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân trong một lần đi sứ. Từ một câu chuyện xuôi, qua bàn tay và sự sáng tạo của Nguyễn Du, Truyện Kiều đã trở thành truyện thơ đc viết bằng chứ Nôm gồm 3254 câu thơ lục bát. Truyện Kiều có 2 giá trị lớn: giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Về giá trị hiện thực, Truyện Kiều gợi lên bức tranh về chế độ phong kiến mà ở đó con ng` chạy theo đồng tiền mặt cho nhân phẩm, danh dự bị chà đạp trong vũng bùn đen tối của đồng tiền thối nát. Bên cạnh đó, Truyện Kiều còn khắc học rõ nét về cuộc sống của ng` dân trong xã hội phong kiến xưa nhất là phụ nữ. Họ bị xã hội chà đạp lên phẩm giá của mình không 1 chút thương tiếc, đồng thời còn lên tiếng tố cáo những thế lực xấu xa. Tác phẩm Truyện Kiều là sự kết tinh những thành tựu nghệ thuật phương diện ngôn ngữ thể loại, nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con ng`. Tóm lại, Truyện Kiều là kiệt tác văn học, kết tinh giá trị hiện thực, nhân đạo và thành tựu nghệ thuật tiêu biểu của văn học dân tộc có sức chinh phục lớn đối với mọi tầng lớp độc giả.
__________________
Đề bài: Viết đoạn văn theo kiểu T-P-H dài khoảng 10 câu cảm nhận về khổ cuối bài thơ "Ánh trăng" Bài Làm: Khổ thơ cuối bài Ánh trăng của Nguyễn Duy đã để lại trong em những cảm nhận sâu sắc. Trong cuộc gặp gỡ tình cờ giữa người và trăng, trăng cứ vẫn vẹn nguyên tròn đầy: tròn vành vạnh mặc dù người vô tình. Trăng đã được nhân hoá, trở thành ẩn dụ chỉ quá khứ đầy tình nghĩa của mỗi con người, của dân tộc. Cái quá khứ ấy đã bị con người lãng quên bởi cuộc sống thay đổi giữa chốn phồn hoa đô hội. Trăng, trong cuộc gặp gỡ ấy, trăng chỉ im phăng phắc. Trăng bao dung, độ lượng nhưng trăng cũng nghiêm khắc qua cái lặng im ấy. Cũng chính vì trăng im phăng phắc nên người phải giật mình suy nghĩ. Đó là cái giật mình vì đã trót lãng quên trăng, quên sự độ lượng của trăng. Đó là cái giật mình cảnh tỉnh ân hận. Nhờ giật mình mà người hiểu ra bài học "Uống nước nhớ nguồn", thuỷ chung của quá khứ.
__________________
Ánh trăng Trăng là một hình ảnh thiên nhiên thật tự nhiên, dung dị. Phải chăng, chính nhờ vẻ đẹp ấy, trăng luôn là đề tài được khai thác và bàn luận trong thế giới thi ca.Nếu Chính Hữu đã vẽ nên một bức tranh lãng mạn và tuyệt đẹp qua hình ảnh “đầu súng trăng treo”, còn với chủ tịch Hồ Chí MÌnh, “Ngắm trăng” thể hiện sự lạc quan, yêu thiên nhiên của người chiến sĩ cách mạng, vị lãnh tụ vĩ đại thì Nguyễn Duy lại mang đến cho chúng ta một “Ánh trăng” với màu sắc mới. Tên khai sin là Nguyễn Duy Nhuệ, quê ở tỉnh Thanh Hoá, Nguyễn Duy là một hồn thơ tươi trẻ, sâu lắng, thấm đẫm hương vị làng quê và cái hồn của ca dao, dân ca Việt Nam; điều đó phần nào được thể hiện qua “Ánh trăng”, một tác phẩm được sáng tác năm 1978- 3 năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Như một lời tự bạch chân thành, bằng ngôn ngữ bình dị, bài thơ thể hiện suy ngẫm về quá khứ và hiện tại để nhận ra sự thay đổi của bản thân, thế thái, nhân tình; từ đó gợi nhớ những năm tháng gian lao của đời lính, củng cố thái độ sống ân nghĩa, thuỷ chung cùng quá khứ. Nếu như trong một số bài thơ khác, một câu thơ có thể tách ra thành hai hay ba dòng thơ để tạo nên hiệu quả nghệ thuật, tạo ấn tượng mạnh; thì bài thơ “Ánh trăng” lại có nét mới. Chữ đầu của mỗi dòng thơ, câu thơ không được viết hoa. Phải chăng, nhà thơ muốn cảm xúc được dạt dào trôi chảy theo thời gian, kỳ niệm. Mạch cảm xúc của bài thơ đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái “giật mình” ở cuối bài thơ. Khổ thơ đầu mở ra hình ảnh vầng trăng thời quá khứ: “Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ” Hai
 






Các ý kiến mới nhất