Chào mừng quý vị đến với Website của Hoàng Thị Lan Thanh.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

Khóc Nguyễn Du

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Lan Thanh (trang riêng)
Ngày gửi: 12h:45' 13-10-2009
Dung lượng: 172.5 KB
Số lượt tải: 25
Số lượt thích: 0 người
Khóc Nguyễn Du



Phương Du Nguyễn Bá Hậu

http://www.giaomua.freehomepage.com/GM08j.jpg





Thi hào Nguyễn Du để lại cho hậu thế hai câu thơ ;

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?
Ngày nay, chúng ta, những người sống gần hai trăm năm sau khi Cụ Nguyễn Du qua đời, ta có cảm nghĩ gì về hai câu thơ trên ?
Vì lời thơ quá cô đọng, có nhiều ẩn ý cho nên tìm hiểu tác giả thật là khó.Với ba chữ ‘khấp Tố Như’, tác giả hỏi ta sau nầy khóc Cụ về những điều gì ? Muốn tìm lời giải đáp, ta cần tìm hiểu tác giả qua các khía cạnh sau đây : tiểu sử cuộc đời, sự nghiệp văn chương và những tư tưởng trình bày trong tác phẫm.

Về tiểu sử Nguyễn Du, ta được biết như sau :
Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, ý nói con người thanh bạch ; hiệu Thanh Hiên, sinh năm Ất Dậu (1765) trong một gia đình quí tộc, có truyền thống về văn học, tại làng Tiên Ðiền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Về khoa cử, gia tộc có sáu tiến sĩ và một trạng nguyên. Cha là Hoàng Giáp Xuân quận công Nguyễn Nghiễm làm Tể tướng ; anh cả là Tiến sĩ Nguyễn Khản làm Tham tụng. Mồ côi cha năm mười tuổi, mẹ năm mười hai tuổi, Nguyễn Du trong thời niên thiếu sống với anh là Nguyễn Khản, vào thời đại khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến Vua Lê Chúa Trịnh. Vua thì làm vì, quyền hành trong tay Chúạ Vì bất đồng ý kiến trong việc tranh nhau quyền hành giữa hai anh em Trịnh Khải và Trịnh Cán, nên quan quân chia bè kết phái đánh nhaụ Trịnh Khải chiêu mộ binh lính vùng Thanh Nghệ gọi là lính Tam phủ ra giúp. Sau khi thắng quân của Trịnh Cán, đoàn quân Tam Phủ khinh thường Trịnh Khải, nổi lên cướp phá đốt nhà của dân chúng và của các quan đại thần, gây ra cảnh loạn lạc gọi là loạn kiêu binh ; nhà của Nguyễn Khản, anh của Nguyễn Du cũng bị đốt phá. Nguyễn Du rời bỏ kinh thành, về quê mẹ ở Sơn Nam, sống cuộc đời ẩn náu nhưng cũng có thời giờ để dùi mài kinh sử. Năm 19 tuổi, Cụ thi đậu Tam trường. Sau đó Cụ giữ chức chánh thủ hiệu một đội quân ở Thái Nguyên cho tới khi vua Lê Chiêu Thống theo Nguyễn Hữu Chỉnh bỏ kinh đô chống nhà Tây Sơn chạy sang Tàu cầu viện. Dưới thời Tây Sơn, Nguyễn Du về sống ẩn dật ở quê nhà, hằng ngày lấy việc săn bắn và câu cá làm thú tiêu khiển nên tự đặt biệt hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ và Nam Hải Ðiếu Ðồ. Ðến năm 1802, vua Gia Long thống nhất sơn hà, đất nước thoát nạn nội tranh, trật tự được vãn hồi, Nguyễn Du được nhà vua mời ra làm quan, nhậm chức Tri Huyện Phụ Dực rồi Tri Phủ Thường Tín. Năm 1806, Cụ được thăng Ðông Các Học Sĩ. Năm 1809, làm Cai Bạ Quảng Bình. Năm 1813, Cụ được thăng chức Cần Chánh Ðiện Học Sĩ rồi sung chức Chánh Sứ sang triều cống nhà Thanh. Lúc trở về được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Trị Năm 1820, tiên sinh được cử đi sứ Tàu lần nữa nhưng chưa kịp đi, Cụ thụ bệnh mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (1820).
Nói tóm lại, cuộc đời Nguyễn Du không có gì để cho hậu thế phải than khóc. Lúc còn thơ ấu, Cụ sống trong nhung lụạ Từ khi mồ côi cha mẹ, Cụ sống với anh cả vào thời kỳ đất nước có loạn kiêu binh. Dưới thời Tây Sơn, Cụ sống ẩn dật ở quê nhà. Rồi Cụ ra làm quan dưới thời nhà Nguyễn cho đến chết. Cái chết của Cụ là cái chết tự nhiên chứ không phải do ai ám hạị Cụ không bị kết tội oan ức chu di tam tộc như Nguyễn Trãị

Về phương diện văn chương, tuy mới đậu tam trường, Nguyễn Du đã sáng tác nhiều bài thơ bằng hán văn. Trong Thanh Hiên thi tập, tập thơ chữ Hán đầu tiên, hiện còn 78 bàị Cụ tả tâm tình trong những năm tháng long đong dưới thời tao loạn trong quyển thứ hai Nam Trung tạp ngâm, hiện còn 40 bàị Cụ than thở cuộc đời nghèo túng, ốm đau, mỉa mai bóng gió bọn quan lại hay chèn ép và đôi khi Cụ tự coi mình vì ra làm quan nên bị mất hết tự do của cuộc đời phóng khoáng. Trong tập Bắc Hành tạp lục, tác giả viết về những đề tài lịch sử và những điều mắt thấy tai nghe trên đường đi sứ ở Trung Quốc.

Ngoài những bài thơ viết bằng chữ Hán kể trên, Nguyễn Du cũng sáng tác hai quyển thơ bằng chữ Nôm, quyển Văn Chiêu Hồn và truyện Kim Vân Kiềụ Trong quyển Văn Chiêu Hồn, tác giả dành nhiều cảm tình với những kẻ thuộc tầng
 
Gửi ý kiến